4/12/11

The Losers 2010_Quái kiệt thất thế

The Losers 2010 [mHD-720p][x264][AC3]-[TRiM][sub viet]


The Loser



Đạo diễn: Sylvain White

Diễn viên: Jeffrey Dean Morgan, Zoe Saldana, Chris Evans...
Thể loại: Hành động
Độ dài: 97 Phút
Quốc gia: USA
Năm sản xuất: 2010




Bộ phim “The Losers” (Quái kiệt thất thế) được chuyển thể từ bộ truyện tranh cùng tên của hãng DC và Vertigo của Mỹ, mang chất hành động hoành tráng pha lẫn chút hài hước.

\"Quái kiệt thất thế\" có nội dung về một cuộc phiêu lưu và đấu trí của 5 thành viên của một đội đặc nhiệm thực hiện phi vụ tối mật đi tìm và diệt tại rừng già Bolivia mà không ngờ có một cái bẫy đã được giăng sẵn cho họ.

Trong phim, Clay, Pooch, Jensen, Cougar và Rogue là 5 thành viên của một đội đặc nhiệm trực thuộc quân đội Mỹ với cái tên “The Losers.” Họ nổi tiếng khắp nơi về thành tích bách chiến bách thắng của mình, và đó cũng là lý do 5 người được trao một trọng trách tối mật thực hiện phi vụ tìm và diệt tại rừng già Bolivia.

Hớn hở chuẩn bị hành trang lên đường, Clay và các đồng sự nào biết rằng họ đang bước vào một cái bẫy khổng lồ chờ sẵn...

Dưới sự trợ giúp của nữ điệp viên xinh đẹp bí ẩn Aisha, nhóm The Losers trốn thoát những kẻ thủ tiêu. Từ đây, nhóm bắt tay cùng Aisha xây dựng nên kế hoạch trả thù những kẻ chủ mưu gian ác...



Video Format: H.264/AVC
Bitrate: 2500 kbit/s
Encoding: 2 Pass
Resolution: 1280 x 544
Frame Rate: 23.976 fps
Display Aspect Ratio: 2.35:1
Audio Type: AC3:
Bitrate: 384 kbit/s
Sample Rate: 48000Hz
Channels: 6 channels: Front: L C R, Surround: L R, LFE
Language: English
Subtitle: Vietnamese
Source: The Losers 2010 Bluray 720p DTS x264-CHD
Encode by khoineo



[TRiM™ Team]












Password nêu có: phimvang.org

Bài viết cùng chủ đề:

Cuộc Tấn Công - L'assaut (2010) DVDRip

Cuộc Tấn Công - L'assaut (2010) DVDRip Xvid -PVG (Việt Sub)


Tên phim: Cuộc Tấn Công -L'assaut (2010)


Đạo diễn: Julien Leclercq
Diễn viên: Vincent Elbaz, Gregori Derangere, Melanie Bernier, Philippe Bas
Nhà sản xuất: Labyrinthe Films, BUF
Thời lượng: 95 phút
Thể loại: Hành Động
Quốc gia: Pháp

Giới thiệu:
Bộ phim dựa trên 1 vụ không tặc có thật của bọn hồi giáo cực đoan năm 1994 và chiến công của lực lượng đặc nhiệm Pháp đã đột kích tiêu diệt thành công bọn khủng bố ngay trên máy bay. Kịch bản phim đơn giản nhưng cảnh hành động rất chất luợng.


Bài viết cùng chủ đề:

Thế Giới Ngầm 1-2-3 - Underworld Trilogy 2003-2009

Thế Giới Ngầm 1-2-3 - Underworld Trilogy 2003-2009 DVDRip Xvid -PVG (Việt Sub)

hế Giới Ngầm - Underworld (2003)


Tên phim: Thế Giới Ngầm - Underworld (2003)
Đạo diễn: Len Wiseman
Diễn viên: Kate Beckinsale, Scott Speedman, Michael Sheen, Shane Brolly, Bill Nighy
Nhà sản xuất: Lakeshore Entertainment, Laurinfilm, Subterranean Productions LLC
Thời lượng: 121 phút
Thể loại: Phiêu lưu
Quốc gia: Châu Âu

Giới thiệu: Underworld (2003) là một bộ phim hành động kinh dị về bí mật giữa 2 dòng họ Vampires(ma cà rồng) và Lycans (người sói).Câu chuyện chủ yếu xoay quanh Selene (Kate Beckinsale), một vampire được gọi là "Death Dealer", hay gọi là thợ săn Lycans.Cô ấy bị quyến rũ bởi Michael Corvin (Scott Speedman)-người bị bọn Lycans săn đuổi.Micheal bị Lycans cắn và anh sẽ biến trở thành Lycan,Selence không cho điều đó xảy ra.

Mở đầu bộ phim,2 người mặc áo choàng đen tự xưng là "Death Dealers"đang săn lùng Lycans.Vampires Selene và Rigel đang có nhiệm vụ tiêu diệt thủ lĩnh Lycans. Selene tin rằng Lycans đã giết cả nhà cô khi cô còn là 1 đứa trẻ.2 dòng họ này tiêu diệt lẫn nhau trong rất nhiều thế kỷ qua, Lucian-thủ lĩnh Lycans-người mà Selene muốn giết.Michael Corvin người có dòng máu mà Lycans biết được xẻ làm cho gien của Lycans phát triển vượt bậc đã trở thành tầm ngắm của họ và Selene đã bảo vệ anh.Còn về phí Lucian,hắn cho ra đời 1 loại súng hi tech có khả năng tiêu diệt Vampire.

Ngay sau khi Selene về đến dinh thự của mình(trong đó có cả Micheal),cô chữa trị vết thương cho Micheal xong(bị Lycans cắn vào vai) và điều tra xem vì sao Micheal bị Lycans truy đuổi.Qua phân tích cô thấy máu của Micheal là 1 loại máu rất mạnh mẽ và điều đó rất hữu dụng cho Lycans.Selene không nhận ra được vết thương đó là do Lycans gây ra.Selene tiếp tục điều tra,cô đột nhập vào thư viện bí mất của hội mình và phát hiện ra,Lucian chưa hề chết.Kraven là bằng chứng duy nhất.Cô đã phải đánh thức cả Viktor,lãnh đạo già nhất của Vampire-hiện đang ngủ đông và hỏi về chuyện quá khứ.Sau đó Selene đưa Michael tới 1 căn nhà an toàn và bắt Micheal chờ cô ở đó.Khi quay lại dinh thự,cô bị các thủ lĩnh khác bắt vì dám làm xáo trộn cả dinh thự...


Thế Giới Ngầm 2 - Underworld: Evolution (2006)


Tên phim: Thế Giới Ngầm 2 - Underworld: Evolution (2006)
Đạo diễn: Len Wiseman
Diễn viên: Kate Beckinsale, Scott Speedman, Tony Curran, Derek Jacobi, Bill Nighy
Nhà sản xuất: 106 phút
Thời lượng: Screen Gems, Lakeshore Entertainment
Thể loại: Phiêu lưu
Quốc gia: Châu Âu

Giới thiệu: Được dựng tiếp từ bộ phim “Underworld” năm 2003, “Underworld: Evolution” nói về tình yêu của một cô gái ma cà rồng và một chàng trai mang trong mình cả hai dòng máu, ma cà rồng và người sói.

Phần hai tiếp tục nói về cuộc chiến tranh giữa Death Dealers (Ma cà rồng) và Lycans (Người sói) trong mối thù truyền kiếp với bối cảnh của 8 thế kỷ về trước. Truyền thuyết kể rằng, sự xung đột dai dẳng này bắt nguồn từ hai nhân vật chính - anh em Markus và William, những đứa con bất tử của Alexander Corvinus. Markus bị dơi cắn và trở thành kẻ đứng đầu vương quốc ma cà rồng, còn William bị một con sói tấn công, trở thành thủ lĩnh quyền lực của đội quân người sói.

Thời gian trôi qua, ở vương quốc ma cà rồng có một cô gái xinh đẹp tên là Selene (Kate Beckinsale). Selene vốn là một người bình thường nhưng đã biến thành ma cà rồng để trả thù sau khi làng của cô bị người sói tấn công. Người xuất hiện và làm thay đổi cuộc đời cô là Michael (Scott Speedman), một chàng trai mang trong mình cả hai dòng máu, ma cà rồng và người sói. Cả hai đều cố gắng giải mã những bí ẩn về dòng máu của mình, tình yêu đến xen lẫn hận thù khiến cho cuộc chiến thù hận càng đau thương hơn khi hai trái tim trẻ phải đối diện với nhau.

Vào thời kỳ đen tối xa xưa, một người sói tên là Lucian đã tập hợp các người sói khác trong họ tộc cùng đứng lên chống lại ách cai trị của Viktor – nhà vua tàn bạo thuộc dòng dõi hoàng tộc ma ca rồng để giải thoát tự do cho tất cả những người sói đang bị nô lệ hoá dưới tay Viktor.




Thế Giới Ngầm 3 - Underworld: Rise Of The Lycans (2009)


Tên phim: Thế Giới Ngầm 3 - Underworld: Rise Of The Lycans (2009)
Đạo diễn: Patrick Tatopoulos
Diễn viên: Michael Sheen, Bill Nighy, Rohna Mitra, Steven Mackintos
Nhà sản xuất: Sketch Films, Intelligent Creatures, Lakeshore Entertainment
Thời lượng: 92 phút
Thể loại: Phiêu lưu
Quốc gia: Châu Âu

Giới thiệu: Underworld: Rise Of The Lycans là phần ba trong loạt phim giả tưởng kinh dị Underworld, tiếp nối hai phần trước là Underworld và Underworld: Evolution, tuy nhiên đây lại là những tình tiết diễn ra trước diễn biến của hai phần kia, nói đến căn nguyên của mối hận thù hàng thế kỷ qua giữa dòng dõi quý tộc ma cà rồng Death Dealers và nô lệ của họ là dòng dõi người sói Lycans, cũng như giải thích nguồn gốc của một vài nhân vật.

Phim xem khá hấp dẫn, có máu, có tình yêu, đau thương và bi phẫn, có tột cùng của nỗi đau, sự mất mát, chia ly và hy sinh cho tình yêu cao đẹp.

Cuộc chiến vẫn chưa kết thúc, Lucian đã nói "đây mới chỉ là bắt đầu". Liệu phần sau sẽ thế nào. Chúng ta cùng chờ nhé.




Bài viết cùng chủ đề:

Phim USLT

Cuộc Đời Say Sưa USLT - Cocktail USLT (2006)

Cuộc Đời Say Sưa USLT - Cocktail USLT (2006)



Đạo diễn: Long Ching, Herman Yau
Diễn viên: Bobo Chan, Lawrence Cheng and Tung Cho Joe Cheung
Nhà sản xuất: Century Creator Co. Ltd.
Thời gian: 90 phút
Năm sản xuất: 2006
Thể loại: Tình Cảm

Link: http://www.mediafire.com/?gd0uv5czlnyjm

Thần Bài 2 USLT - God Of Gamblers 2 USLT (1991)


Đạo diễn: Jing Wong
Diễn viên: Andy Lau, Stephen Chow and Man Tat Ng
Nhà sản xuất: Win s Film Productions
Thời gian: 99 phút
Năm sản xuất: 1991
Thể loại: Hành Động


Wong Jing s sequel to All for the Winner and spin-off to God of Gamblers finds Chow Sing Cho looking up to Michael Dagger Chan in order to become Ko Chun s next disciple, but the two must put aside their differences when they discover that a gang boss is bent on ruining the God of Gamblers name.

Link: http://www.mediafire.com/?fchmg3wiwrs57


Tội Cám Dỗ (18+) USLT - To Seduce An Enemy (18+) USLT - (2003)




Đạo diễn: Bowie Lau
Diễn viên: Winnie Leung, Kar Lok Chin and Keung-Kuen Lai
Nhà sản xuất: S&W Entertainment Limited
Thời gian: 98 phút
Năm sản xuất: 2003
Thể loại: Hành Động

Link: http://www.mediafire.com/?jb5cqbi2qw7lw
 
 

Bài viết cùng chủ đề:

Bài viết cùng chủ đề:

2/12/11

Lời Tiên Tri Về Ngày Tận Thế 2011 VIETSUB

      Lời Tiên Tri Về Ngày Tận Thế 2011 VIETSUB - Doomsday Prophecy (2011) VIETSUB



Đạo diễn: Jason Bourque
Diễn viên: Jewel Staite, A.J. Buckley, Gordon Tootoosis
Nhà sản xuất: Alex Da Kid studio
Quốc gia: Mỹ - Châu Âu
Thời lượng: 90 phút
Thể loại: Viễn Tưởng
Năm sản xuất: 2011


Những điều kỳ lạ bắt đầu xảy ra với sự biến mất của Biển Đen, sau đó nhấn chìm các miệng núi bởi các trận động đất. Các quan chức thấy rằng tất cả những điều này đang xảy ra theo cuốn tiểu thuyết Doomsday Prophecy của Rupert Crane người trước đã viết tiểu thuyết về nhiều tai họa đã xảy ra trước đó

Download Phim Tại Đây
 http://www.mediafire.com/?5vhdf8oxwfvxt

Bài viết cùng chủ đề:

Bố Già 1,2,3 - The Godfather Trilogy (1972 - 1974 - 1990)

      Bố Già 1,2,3 - The Godfather Trilogy (1972 - 1974 - 1990) DVDRip Sub Việt

- Tên phim: Bố Già - The Godfather (1972)
- Đạo diễn: Francis Ford Coppola
- Diễn viên: marlon Brando, Al Pacino, James Caan
- Nhà sản xuất: Paramount Pictures, Alfran Productions
- Thời lượng: 175 phút
- Thể loại: Hình Sự, tội phạm
- Quốc gia: Mỹ
- Giới thiệu: Bố già (tiếng Anh: The Godfather) là một bộ phim hình sự sản xuất năm 1972 dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mario Puzo và do Francis Ford Coppola đạo diễn. Bộ phim có dàn diễn viên nổi tiếng gồm Marlon Brando, Al Pacino, Robert Duvall, Diane Keaton và James Caan. Phim xoay quanh diễn biến của gia đình mafia gốc Ý Corleone trong khoảng 10 năm từ 1945 đến 1955.

Bộ phim được coi là một trong những phim hay nhất của lịch sử điện ảnh, nó luôn xếp ở các vị trí dẫn đầu trong các bảng xếp hạng phim hay uy tín.

Phim bắt đầu bằng cảnh đám cưới của Connie Corleone, con gái duy nhất của ông trùm Vito Corleone với Carlo Rizzi vào cuối mùa hè năm 1945 ở Long Island, New York. Vì phong tục "không người Sicilia nào được từ chối những đề nghị vào ngày cưới của con gái họ", Vito Corleone, thường được bạn bè và người cộng tác gọi là "Bố già", cùng với người cố vấn Tom Hagen phải ngồi nghe những thỉnh cầu từ bạn bè và đối tác làm ăn. Cùng lúc đó, con trai út của nhà Corleone, Michael, người vừa trở về sau chiến tranh với tư cách một anh hùng, kể cho bạn gái của anh là Kay Adams những giai thoại về cuộc đời tội ác của cha mình và cam đoan với cô rằng anh không giống với gia đình mình.



- Tên phim: Bố Già 2 - The Godfather 2 (1974)
- Đạo diễn: Francis Ford Coppola
- Diễn viên: Al Pacino, Robert De Niro, Robert Duvall
- Nhà sản xuất: Paramount Pictures, The Coppola Company
- Thời lượng: 200 phút
- Thể loại: Hình Sự, Tội Phạm
- Quốc gia: Mỹ
- Giới thiệu: Bố già phần II (The Godfather Part II) là một bộ phim hình sự sản xuất năm 1974 dựa theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mario Puzo và do Francis Ford Coppola đạo diễn. Bộ phim này là phần tiếp theo của tác phẩm nổi tiếng Bố già (The Godfather) sản xuất năm 1972 và sau đó được tiếp tục bằng Bố già phần III (The Godfather Part III) sản xuất năm 1990. Truyện phim nói về những diễn biến trong gia đình Corleone sau những sự kiện xảy ra ở phần đầu cũng như miêu tả quá trình trở thành ông trùm của Vito Corleone.

Bố già phần II được một số nhà phê bình coi đánh giá là hay tương đương, nếu không nói là còn hay hơn phần đầu tiên, vốn đã là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh Hoa Kỳ.

Phim mở màn với cảnh một đám ma ở thị trấn corleone trên đảo sicilia năm 1901. người nằm trong quan tài là antonio andolini. Ông bị don ciccio, trùm mafia địa phương, giết vì dám sỉ nhục hắn. con cả của antonio sau đó cũng bị giết vì thề sẽ trả thù. lo sợ cho tính mạng của vito, đứa con thứ hai, người vợ góa của antonio tới cầu xin ông trùm don ciccio tha mạng cho nó, nhưng don ciccio không chấp nhận. Để cứu con, bà liều mạng dùng dao khống chế hắn để vito chạy thoát, vito, khi đó mới 9 tuổi, bỗng chốc mất cả gia đình chỉ vì don ciccio. cậu trốn lên một tàu thủy tới new york (mỹ). một nhân viên quản lý người nhập cư ghi nhầm quê của vito thành họ. thế là cậu có tên mới: vito corleone.


16 năm sau, vito (robert de niro) đã lập gia đình và làm việc cho một cửa hàng thịt. khu phố anh ở nằm dưới sự “bảo kê” của một thành viên băng bàn tay đen (black hand). hắn là don fanucci, kẻ chuyên tống tiền những cửa hàng nhỏ. một đêm, clemenza, láng giềng của vito, đề nghị anh giấu hộ mấy khẩu súng. sau đó, clemenza rủ vito đi ăn cắp một tấm thảm quý. Đó là lần đầu tiên chàng thanh niên gốc italy làm điều phi pháp. kể từ khi rủ thêm được sal tessio, bộ ba tiến hành thêm nhiều phi vụ nữa

don fanucci bắt đầu để ý đến mối làm ăn của của vito, clemenza, sal tessio và đòi được chia phần. lợi dụng một ngày lễ của khu phố, vito giết fanucci. kể từ đó, anh bắt đầu được hàng xóm kính trọng và trở thành người hòa giải cho những vụ xích mích ở khu vực, vito mở một công ty bán dầu ô liu có tên genco pura olive oil company. khi bắt đầu có tiếng tăm, anh quay trở lại sicilia và cho tên trùm don ciccio về chầu trời...

Tới năm 1941, vito (al pacino) và vợ, carmella, đã có 4 con: fredo, connie, sonny và michael. họ sống trong một dinh thự nằm bên cạnh hồ tahoe (bang nevada). cánh tay đắc lực của ông trùm là luật sư tom hagen. lúc này mỹ đã chính thức tham gia chiến tranh thế giới thứ hai. vito rất kỳ vọng vào michael, nhưng cậu con thứ ba của ông không muốn dính dáng tới việc làm ăn của gia đình và gia nhập quân đội. anh chiến đấu dũng cảm và được tặng thưởng huân chương. trong ngày trở về dự đám cưới của connie, michael đưa cô bạn gái kay adams về ra mắt mọi người

tình hình trong nhà corleone trở nên xấu đi kể từ khi vito bị sát thủ của một tổ chức mafia gốc italy ám sát nhưng không chết. sau đó, trong một phút nóng giận mất khôn, sonny rơi vào bẫy của kẻ thù và bỏ mạng. tới lúc này thì michael hiểu rằng anh không thể ngồi yên nhìn người ta giết chết từng người trong gia đình. kẻ tiếp tay cho bọn sát thủ trong vụ giết sonny được tìm ra. Đó là chồng của connie, kẻ luôn dùng vũ lực với vợ. hắn muốn giết sonny chỉ vì anh cấm hắn không được đánh chị gái. mặc cho connie hết lời van xin, michael vẫn ra lệnh giết chết anh rể

vito thoát chết, nhưng sức khỏe sụt giảm ghê gớm. do giết quá nhiều nhân vật cộm cán trong thế giới ngầm để trả thù nên michael phải đi lánh nạn ở một vùng nông thông hẻo lánh. tại đây, anh gặp và kết hôn với một thôn nữ địa phương. tuy nhiên, khi cả hai chuẩn bị quay về bang nevada để ra mắt gia đình thì cô dâu mới bị chính cận vệ của michael sát hại. trở về nhà, michael nối lại tình xưa với kay adams và kết hôn với cô. vito đột ngột qua đời khi con trai đầu của michael lên 4 tuổi. cậu con trai út của ông tiếp quản toàn bộ công việc làm ăn và trở thành “bố già” mới ..





- Tên phim: Bố Già 3 - The Godfather 3 (1990)
- Đạo diễn: Francis Ford Coppola
- Diễn viên: Al Pacino, Diane Keaton, Andy Garcia
- Nhà sản xuất: Paramount Pictures, Zoetrope Studios
- Thời lượng: 162 phút
- Thể loại: Hình sự, Tội phạm
- Quốc gia: Mỹ
- Giới thiệu: Quá kinh điển và nổi tiếng - hẳn ko ai là ko biết trilogy The Godfather của đạo điễn bậc thầy Francis Ford Coppola. Phần 3 và cũng là phần cuối cùng của loạt phim Bố già (The Godfather) do Mario Puzo, Francis Ford Coppola viết kịch bản và đạo diễn bởi Francis Coppola. Tập phim này là đoạn kết cho câu chuyện về Michael Corleone, một bố già Mafia tìm cách hợp pháp hóa cho đế chế tội ác của ông ta.
Bố già phần III cũng đề cập tới một số chi tiết liên quan đến sự kiện có thực về cái chết của Giáo hoàng Gioan Phaolô I và vụ phá sản của Ngân hàng Banco Ambrosiano những năm 1981-1982. Bộ phim có sự tham gia của các ngôi sao Al Pacino, Diane Keaton, Talia Shire, Andy Garcia, Bridget Fonda và Sofia Coppola.




Bài viết cùng chủ đề:

ÐÔI ÐIỀU CẦN BIẾT KHI DÙNG TAM THẤT

ÐÔI ÐIỀU CẦN BIẾT KHI DÙNG TAM THẤT

Tác giả : DS. TRẦN XUÂN THUYẾT

Tam thất còn có tên kim bất hoán, có nghĩa là vị thuốc rất quý, vàng không đổi được. Người xưa đã ghi lại vị thuốc này có tác dụng quý, chữa khỏi được nhiều bệnh. Y học hiện đại cũng đã chứng minh những dược tính giá trị của tam thất, trong đó có công sức đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam.
TÊN KHOA HỌC
Tên khác: Ðiền tam thất, xuyên tam thất, sâm tam thất, kim bất hoán.
Tên khoa học: Panax noto ginseng (Burk) F.H. Chen.
Panax pseudo ginseng Wall (Dược điển VN tập II/ 1991), họ nhân sâm (Araliaceae).
Ý nghĩa về tên: Tam thất: Tam là 3, thất là 7 để chỉ:
- Số lá chét: Năm đầu mỗi lá có 3 lá chét, những năm sau có 7 lá chét.
- Chế độ ánh sáng trong chu kỳ sinh trưởng: 3 phần nắng, 7 phần râm.
- Chu kỳ sản xuất:
+ Từ gieo hạt đến ra hoa 3 năm.
+ Từ gieo hạt đến thu hoạch 7 năm.
- Công sản xuất: 3 năm trồng trọt, 7 năm chăm sóc.
ÐẶC ÐIỂM THỰC VẬT
Tam thất là một loài cỏ sống lâu năm. Lá mọc vòng, mỗi lá có 1 cuống dài 3-7cm. Mỗi cuống có từ 3-7 lá chét. Lá chét hình mác, mép có răng cưa nhỏ. Cụm hoa hình tán mọc ở đầu cành (mỗi cụm có từ 150-400 nụ). Từ năm thứ 2 trở đi bắt đầu có hoa. Mỗi hoa có 5 cánh màu xanh nhạt. Quả mọng, khi non màu xanh, khi chín màu đỏ, trong có 2 hạt hình bầu dục dài 5-7mm, đường kính 4-6mm, màu vàng sáng.
ÐỊA LÝ PHÂN BỐ
Trên thế giới, tam thất chỉ thấy ở Trung Quốc, mọc hoang và được trồng từ lâu đời tại các miền ôn đới có độ cao trên 1.200m (so với mặt biển), như các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Quảng Tây và Vân Nam. Trong đó Vân Nam là vùng trồng tam thất lớn nhất và có chất lượng cao nhất. Vào thập kỷ 90 (thế kỷ XX) đã thành lập Sở nghiên cứu khoa học kỹ thuật Tam thất ở châu Văn Sơn, nghiên cứu trồng "Tam thất sạch" theo tiêu chuẩn GAP (Good Agriculture Practice) cho sản phẩm có tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn của Dược điển Trung Quốc.
Ở Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ XIX, tam thất được di thực từ Trung Quốc sang trồng ở một số tỉnh biên giới giáp Trung Quốc, như Hà Giang có 4 huyện trồng tam thất, nhiều nhất là Ðồng Văn, thị trấn Phí Bảng, xã Xà Phìn, Phố Cáo, Sủng Là, Lũng Thất, Lũng Cáo, Tù Lùng. Lào Cai có 3 huyện trồng tam thất là Mường Khương, Bát Xát, Phà Lùng. Cao Bằng cũng có nhiều nơi trồng tam thất.
BỘ PHẬN DÙNG LÀM THUỐC
Các loại thương phẩm chính (có tiêu chuẩn):
Rễ: Có rễ chính và rễ nhánh. Thu hoạch khi cây trồng được 5-7 tuổi (Gọi là "đầu", không gọi là "củ").
Hoa: Thu hoạch ở cây trồng 2-3 tuổi trở đi.
Thân lá: Thu hoạch hàng năm vào đầu mùa đông, khi cây bắt đầu tàn lụi hoặc khi đào củ.
Loại không tiêu chuẩn, có bán trên thị trường: Quả non phơi khô.
TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG
Theo Dược điển Việt Nam tập III/2002. Chỉ quy định: Thủy phần không quá 13%. Phần mô tả ghi: Rễ củ dài 1,5-4cm, đường kính 1,2-2cm.
Theo tiêu chuẩn tam thất sạch chất lượng cao Văn Sơn - Vân Nam (DB 53055.1-1999):
- Rễ chính dài 1-6cm, đường kính 1-4cm (đầu).
- Rễ nhánh gồm có: Nhánh con (cân điều) dài 1-6cm. Ðường kính đầu trên 0,8cm, đường kính đầu dưới 0,3cm. Nhánh phụ (mao căn) đường kính đoạn giữa dưới 0,4cm.
- Phân làm 3 loại: Loại 1: Xuân tam thất loại ưu; Loại 2: Xuân tam thất; Loại 3: Ðông tam thất.
- Có 12 quy cách: 20 đầu, 30 đầu, 40 đầu, 60 đầu, 80 đầu, 120 đầu, 160 đầu, 200 đầu (Là số củ/ 500g), vô số đầu, nhánh phụ, nhánh con, mao căn.
Chất lượng tam thất được quyết định bằng hàm lượng tổng saponin và hàm lượng saponin nhân sâm đơn thể (Rb1 và Rg1) - xem bảng 1.
Mặt khác còn qui định cụ thể: Dư lượng thuốc trừ sâu DDT và 666 (mg/kg). Kim loại nặng: Cu, Pb, Cd, Hg, As (mg/kg). Thủy phần 12-13%. Tổng tro: 5-6%.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC
- Các saponin là chất tác dụng chính của tam thất. Hàm lượng saponin quyết định phẩm cấp của tam thất. Loại thấp nhất là 2,5% và cao nhất là 9,5% trong rễ củ, 12% trong nụ hoa. Trong đó có saponin nhân sâm (Gensenosid) và saponin tam thất (Notoginsenosid).
- Dencichin 0,9% là chất có tác dụng cầm máu.
- Các acid hữu cơ: Octanoic, Nonanoic, Palmitic, Acetic v.v...
- Các Flavonoid.
- Các acid amin: Aspartic, Glutamic, Lysin, Acetic...
- Tinh dầu: tạo mùi thơm đặc trưng của tam thất.
TÁC DỤNG DƯỢC LÝ
- Ðộc tính: Tam thất không độc. Thả cá vàng vào dung dịch 1/1.000 đến 1/500 sau 24 giờ không thấy hiện tượng trúng độc.
- Noto ginsenosid có tác dụng bảo vệ tim chống lại những tác nhân gây loạn nhịp. Giãn mạch, ngăn ngừa vữa xơ động mạch. Tăng khả năng chịu đựng của cơ thể khi bị thiếu oxy (tránh choáng khi mất nhiều máu). Ức chế khả năng thẩm thấu của mao mạch. Hạn chế các tổn thương ở vỏ não do thiếu máu gây ra.
- Tác dụng cầm máu: rút ngắn thời gian máu chảy, máu đông, chống lại các chất làm giảm prothrombin trong máu (liều cao kém tác dụng so với liều thấp).
- Tác dụng tiêu máu: Cù Nhẫn Nại và cộng sự đã sử dụng chế phẩm tam thất cho 304 bệnh nhân chảy máu trong mắt. Nhận thấy: Tam thất có tác dụng tiêu máu rõ và nhanh với các trường hợp chảy máu do chấn thương. Các trường hợp khác có tác dụng nhưng kém.
- Tác dụng kích thích miễn dịch không đặc hiệu. Ðặng Hanh Phức và cộng sự đã chứng minh khả năng kích thích miễn dịch không đặc hiệu của một số cây thuốc họ Nhân sâm (Araliaceae) Nhận thấy: Ðinh lăng, tam thất thể hiện tác dụng kích thích mạnh miễn dịch không đặc hiệu. Ðó là cơ sở khoa học chứng minh tác dụng của tam thất trong những bài thuốc của y học cổ truyền chữa ung thư các loại và các bệnh suy giảm miễn dịch do virus, vi khuẩn.
- Tác dụng với thần kinh: Dịch chiết rễ tam thất có tác dụng gây hưng phấn thần kinh. Nhưng dịch chất chiết lá tam thất lại có tác dụng ngược lại: Kéo dài tác dụng của thuốc an thần.
- Tác dụng giảm đau: Dịch chiết của rễ, thân lá, tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt.
- Tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái: Ðoàn Thị Nhu và cộng sự đã chứng minh: Rễ củ tam thất có tác dụng gây động dục rõ rệt trên chuột nhắt cái thiến. Tỷ lệ súc vật có động dục tăng khi tăng liều tam thất. Rễ con và lá tam thất cũng có tác dụng nhưng yếu hơn (Tuy nhiên liều dùng 5g rễ tam thất/kg cho súc vật thí nghiệm không thể áp dụng được cho người).
CHẤT LƯỢNG TAM THẤT TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Ngày 17/12/2001, Cục Quản lý Dược Việt Nam có Công văn số 7399/QLD-HN thông báo tình hình tam thất kém chất lượng của một số công ty kinh doanh Trung Quốc (có dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc kích thích cao - bắn găm đạn chì, đạn gang vào ruột củ để tăng trọng lượng). Không bán được ở thị trường thế giới nên tìm cách nhập vào Việt Nam. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu thuốc phải cảnh giác và kiểm tra chặt chẽ chất lượng tam thất trước khi nhập khẩu - sản xuất.
Thực ra từ năm 2000, trên thị trường Ðông dược, tam thất Trung Quốc đã tràn sang ta theo đường tiểu ngạch với giá rất rẻ (15.000 đồng/100g loại I), làm cho người trồng tam thất ở Việt Nam điêu đứng. Còn người tiêu dùng không biết thứ nào tốt, thứ nào xấu để chọn lựa.


CÔNG DỤNG - CÁCH DÙNG - LIỀU DÙNG

Theo Ðông y, tam thất vị ngọt hơi đắng, tính ôn; Vào các kinh, can, thận, có tác dụng hóa ứ, cầm máu, tiêu sưng, giảm đau. Tam thất được xếp vào các loại thuốc lý khí, nhóm cầm máu, song tác dụng hóa ứ của tam thất mới là cơ bản.
Hóa ứ, cầm máu, tiêu sưng: Chữa các trường hợp chảy máu do chấn thương (kể cả nội tạng). Bên cạnh tác dụng cầm máu, giảm phù nề còn có tác dụng tiêu máu ứ (do phẫu thuật, đụng dập gây bầm tím phần mềm). Tam thất đóng vai trò chủ công còn các vị thuốc khác là phụ trợ. Dạng thuốc dùng chủ yếu là thuốc bột, liều dùng thấp, từ 1-3g tam thất/ngày để cầm máu trước và 4-6g/ngày để tiêu máu ứ sau khi đã cầm máu chắc chắn. Riêng với trường hợp phụ nữ sau sinh, dùng tam thất 5g/ngày hầm với gà ác (gà chân đen) vừa có tác dụng cầm máu, tiêu máu ứ và bồi bổ cơ thể.
Hóa ứ giảm đau: Ứ, đau là nguyên nhân và triệu chứng của các bệnh tim mạch như: Thiểu năng tuần hoàn não, nhũn não, đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim, vữa xơ động mạch v.v... và các bệnh ung thư. Những bài thuốc chữa hoặc hỗ trợ điều trị ung thư thường phối hợp với nhiều vị thuốc khác, tùy từng loại ung thư và từng thời kỳ mà gia giảm. Vai trò của tam thất ở đây là: giảm đau, tăng sức đề kháng của cơ thể, giảm tác hại của tia xạ khi kết hợp xạ trị, giảm tác hại của hóa trị với gan và thận, kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư, cầm máu trong trường hợp có chảy máu.
Hóa ứ tiêu nhọt: Tam thất có tác dụng tiêu nhọt, giảm đau trong các trường hợp ung nhọt sưng đau, loét và chữa rắn độc cắn. Vừa dùng trong (uống bột tam thất từ 1-1,5g) vừa bôi ngoài (mài tam thất với dấm để bôi không kể liều lượng).
KIÊNG KỴ
- Người huyết hư không ứ, không dùng tam thất.
- Riêng trường hợp dùng tam thất để cầm máu, trong thời gian dùng thuốc không dùng tỏi, gừng và các chế phẩm có chứa tỏi, gừng (trừ thán khương).
MỘT SỐ BÀI THUỐC
- Hóa huyết đan: Bột tam thất 7g, bột hoa nhị thạch nung 25g (1), bột huyết dư thán 10g (2). Tất cả trộn đều. Liều dùng: Mỗi ngày uống 2 lần x 10g bột thuốc, chiêu với nước ấm. Công dụng cầm máu, giảm đau, chống phù nề. Chữa các trường hợp như: băng huyết (khi hành kinh hoặc sau khi sinh), chảy máu cam, ho ra máu, nôn ra máu, tiêu ra máu, tiểu ra máu, chảy máu dạ dày, chảy máu do chấn thương (kể cả trong mắt).
- Tam thất bột: Công dụng cầm máu, giảm đau, tiêu máu ứ, tiêu sưng.
Chữa thống kinh (đau bụng trước kỳ kinh), ngày uống 1 lần x 5g, chiêu với cháo loãng hoặc nước ấm.
Phòng và chữa đau thắt ngực: Ngày uống 1 lần 3-6g, chiêu với nước ấm.
Chữa thấp tim: Ngày uống 3 lần x 1g, mỗi lần cách nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm. Liều dùng 30 ngày.
Chữa các vết bầm tím do ứ máu (kể cả ứ máu trong mắt): Ngày uống 3 lần, mỗi lần từ 2-3g. Cách nhau 6-8 giờ, chiêu với nước ấm.
- Tam thất - hồng sâm: Bột tam thất và bột hồng nhân sâm lượng bằng nhau trộn đều.
Chữa đau thắt lưng: ngày uống 2 lần x 2g thuốc bột, cách nhau 12 giờ, chiêu với nước ấm. Ngoài ra còn có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho người suy nhược thần kinh, phụ nữ sau sinh, người mới ốm dậy.
- Tam thất - hồng sâm - mạch đông: Gồm có bột tam thất 15g, bột hồng nhân sâm 30g, bột mạch môn đông 30g, trộn đều. Mỗi lần uống 3-6g thuốc bột tùy thể trọng - chữa đau thắt ngực thể khí âm hư kiêm ứ.
- Ðương quy xuyên khung thang: Chữa bạch cầu cấp và mạn tính. Ðương quy 15-30g, xuyên khung 15-30g, xích thược 15-20g, hồng hoa 8-10g, tam thất 6g, sắc uống.
- Ngưu hoàng tiêu thũng phương: Chữa ung thư vú. Ngưu hoàng 10g, tiên linh tỳ 60g, bột tam thất 60g, hà thủ ô đỏ 60g, hạ khô thảo 60g, ý dĩ nhân 60g, tử hoa địa đinh 60g, nga truật 60g, hoàng kỳ 30g, sơn từ cô 30g, hương duyên 30g, sao tam tiên 30g, nhũ hương chế 15g, một dược chế 15g, hải long 15g. Chế thuốc hoàn với nước. Liều dùng: ngày uống 2 lần x 3g thuốc hoàn cách nhau 10 giờ.
- Thiệt tiết linh thang: Chữa ung thư lưỡi. Uống 130 thang, khối u sẽ tiêu. Thang gồm 20 vị, trong đó tam thất 6g.
- Hóa ứ chỉ thống thang: Chữa xuất huyết não dưới màng nhện. Chứng ứ huyết nội trở. Trong đó có bột tam thất 6g uống với thuốc sắc.
- Thông lạc hóa ứ: Chữa nhũn não. Trong công thức có 40% là tam thất...
DƯỢC PHẨM CÓ TAM THẤT BÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
- Bột tam thất lọ 50g và 100g do Công ty Dược phẩm Phúc Hưng, Hà Tây sản xuất.
- Bột tam thất sạch gói 250g do Công ty cổ phần TRAPHACO sản xuất.
- Trà tan tam thất túi 3g.
- Viên nén Nhân sâm - Tam thất, vỉ 12 viên do Công ty cổ phần TRAPHACO sản xuất.
- Viên Ðan sâm - Tam thất, vỉ 20 viên do Công ty cổ phần TRAPHACO sản xuất.
- Viên hoàn cứng CADEF. Hộp 10 gói x 5g viên hoàn cứng do Công ty cổ phần TRAPHACO sản xuất.
LỜI BÀN
1. Kiêng kỵ và quy kinh của tam thất:
- Dược điển Việt Nam tập III/2002 ghi: Tính vị quy kinh: Cam vi khổ, tính ôn vào các kinh can, vị. Kiêng kỵ: Người có thai kiêng dùng.
- Sổ tay các bài thuốc thường dùng trong lâm sàng của Ðại học Ðông y Hồ Nam, Trung Quốc (Bản dịch của Thư viện Y học TW - Hà Nội 1975) ghi: Vị ngọt hơi đắng, tính ôn vào các kinh can, thận. Kiêng kỵ: Người huyết hư không ứ, không dùng.
Chúng tôi suy xét: Tam thất là sản vật của Trung Quốc từ lâu đời. Tài liệu của Ðại học Ðông y Hồ Nam là tổng hợp kiến thức y học Trung Hoa, vì vậy sẽ chuẩn xác hơn tài liệu của Việt Nam về tam thất. Mặt khác lại thấy có bài thuốc dùng cho người có thai nhưng sinh hoạt tình dục quá độ ảnh hưởng đến thai nhi. Trong đó có vị tam thất.
- Tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái nếu vận dụng cho người, tính ra liều 1 lần uống cho người 50kg phải là 250g củ tam thất mới có tác dụng. Do đó liều thường dùng không thể có tác dụng này. Vì vậy viết kiêng dùng cho người có thai là chưa chuẩn xác.
2. Chất lượng của dược phẩm "Tam thất bột"
Trên nhãn thuốc không thấy ghi hàm lượng tổng saponin. Người dùng không biết tam thất bột được sản xuất từ loại nguyên liệu nào? Vì tam thất củ theo tiêu chuẩn của Viện nghiên cứu Văn Sơn, Vân Nam có 8 loại, 24 mức độ. Mức độ 24 là 2,5% saponin. Mức độ 1 là 9,5% saponin và chất lượng là "Tam thất sạch" hay "Tam thất chợ"? Những điều nêu trên làm cho người mua thuốc ngần ngại. Do đó nếu không thật cần cấp, nên mua tam thất củ rồi thuê xay bột cho "chắc ăn".
3. Nhu cầu về dược phẩm "hóa huyết đan"
Với tác dụng cầm máu, tiêu sưng, giảm đau, nếu bài "hóa huyết đan" được sản xuất thành dược phẩm bán tại các nhà thuốc sẽ rất thuận tiện và cứu được nhiều người bị chấn thương do tai nạn; Nhất là tai nạn giao thông ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng. Có thể sản xuất dạng thuốc bột đóng lọ nhỏ 60g thuốc bột (liều dùng trong 3 ngày). Mong các công ty sản xuất thuốc lưu tâm đến vấn đề này.

Cây thìa canh với bệnh tiểu đường

Trong vài thập niên gần đây cùng với sự phát triển của đời sống, số người mắc bệnh  gia tăng nhanh chóng, thực sự trở thành mối lo ngại rất đáng báo động trên phạm vi toàn thế giới.

Theo điều tra xã hội học toàn quốc năm 2002, tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường của người từ 30 tuổi đến 64 tuổi của Việt Nam là 2,7% (gần 2 triệu người), riêng khu vực thành thị tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường là 4,4%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân chưa chẩn đoán bệnh và điều trị là 64,6%. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh dễ gây ra những biến chứng nguy hiểm, 44% người bệnh tiểu đường ở nước ta bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng về mắt, ngoài ra còn các biến chứng về tim mạch, khớp… Các biến chứng này thường tạo nên các di chứng nguy hiểm có thể dẫn đến tàn phế suốt đời hoặc tử vong.
Dây  – cây thuốc quý
Dây thìa canh, có tên khoa học là gymnema sylvestre, 1 loại cây dây leo, thân gỗ, được sử dụng tại Ấn độ, Trung quốc hơn 2000 năm nay để trị bệnh nước tiểu ngọt như mật, nó còn có tên Gurmar, có nghĩa là kẻ huỷ diệt đường. Dây thìa canh được biết đến và sử dụng rộng rãi tại nhiều nước như Ấn độ với tên Diabeticin, Mỹ với tên Sugarest, Singapore với tên Glucos care, Nhật Bản, Trung Quốc, Úc…
Hoạt chất chính trong Dây thìa canh là gymnemic acid, với cơ chế tác dụng của đã được xác định là tăng tiết insulin của tuyến tuỵ, tăng cường hoạt lực của insulin, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipid máu.
Đến nay đã có khoảng 70 nghiên cứu về Dây thìa canh trên thế giới, bao gồm cả nghiên cứu trên động vật và người, các nghiên cứu đã cho thấy tác dụng giảm đường huyết rất rõ rệt của Dây thìa canh.
Dây thìa canh tại Việt Nam
Tại Việt Nam, từ năm 2006 các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Dược Hà Nội do tiến sĩ Trần Văn Ơn, phụ trách bộ môn Thực vật chủ trì đã lần đầu tiên điều tra phát hiện Dây thìa canh tại 1 số tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Nhận thấy đây là 1 cây thuốc quý, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập mẫu, phân loại, nghiên cứu thành phần hoá học, tổ chức nuôi trồng để tạo nguồn dược liệu sạch, ổn định để sản xuất sản phẩm phục vụ người bệnh sản phẩm dạng viên nang tiện dùng cho người bệnh.
Kết quả nghiên cứu đề tài được công bố trên tạp chí Dược học – Bộ y tế số 391 tháng 11/2008 cho thấy dây thìa canh tại Việt Nam cũng cho tác dụng hạ đường huyết như dây thìa canh ở nhiều nước khác. Tác dụng hạ đường huyết của dây thìa canh có những điểm tương đống như insulin nhanh: đỉnh tác dụng hạ đường huyết ở 2h và duy trì đến 4h; mức độ hạ đường huyết tương đương ở thời điểm 2h và 4h. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng giảm cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả.
Như vậy dây thìa canh có thể ứng dụng điều trị cho cả bênh nhân tiểu đường týp 1 hoặc týp 2 phối hợp với các thuốc điều trị khác để kiểm soát và làm giảm đường huyết, ổn định kéo dài hàm lượng đường huyết, phòng ngừa biến chứng, giảm cholesterol và lipid trong máu, nâng cao đời sống tình dục của bệnh nhân tiểu đường Nam giới. Hiệu quả sẽ rất khả quan đạt được sau đợt dùng 2-3 tháng, kết hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.
Có thể nói việc tìm ra cây Dây thìa canh tại Viêt Nam – một dược liệu quý hiếm, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tiểu đường và mỡ máu, mở ra triển vọng lớn ứng dụng các cây thuốc quý Việt Nam cho sức khỏe con người – một hướng giải pháp an toàn lâu dài cho bệnh nhân tiểu đường luôn sống vui khỏe.

Theo giadinh.net

Cây Kim phượng

Kim phượng – loài hoa nhập nội gắn liền với văn hóa tâm linh

Đỗ Xuân Cẩm

Vốn xuất thân từ vùng nhiệt đới Trung Mỹ, với tên thường gọi là Dwarf poinciana, khi vào Việt Nam, cây Kim phượng được gắn cho nhiều tên gọi khác nữa như, Kim điệp, Điệp cúng, Phượng cúng, Phượng ta… Một số tài liệu còn công bố nhiều tên phiên âm Hán Việt như, Phiên hồ điệp, Kim phượng hoa, Khổng tước hoa, Hoàng hồ điệp, Điệp hoa…

Đây là loài cây bụi hoặc gỗ nhỏ cao từ 3-5 m, thuộc chi Vang – Caesalpinia, họ Vang – Caesalpiniaceae, với tên khoa học là Caesalpinia pulcherrima. Trong số nhiều loài thuộc chi Vang, thì Kim phượng là loài duyên dáng nhất, do dáng cây mảnh khảnh, cành nhánh mềm mại; lá kép lông chim dài 20-40 cm, mang 3-10 cặp cuống cấp hai, mỗi cuống cấp hai mang 6-10 cặp lá chét nhỏ nhắn như lá me; hoa gần giống hoa phượng vĩ nhưng nhỏ và thanh mảnh hơn. Có 3 giống kim phượng khác nhau ở màu hoa: giống hoa vàng, giống hoa đỏ da cam và giống hoa hồng.

Nhiều quốc gia thuộc vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới đã nhập trồng các giống Kim phượng để làm cảnh ở công viên và vườn nhà. Do cây có kích cỡ thon gọn, thích điều kiện chiếu sáng toàn phần nhưng cũng chịu điều kiện che bóng một phần nên phù hợp với việc bố trí trồng ở những khoảnh đất nhỏ có không gian bị hạn chế. Ở vùng nhiệt đới cây thường xanh, ra hoa vào những tháng nắng nóng, nhưng cũng có trường hợp cây ra hoa gần như quanh năm. Ở vùng á nhiệt đới cây thường rụng lá vào mùa khô trước khi ra hoa. Trong thời kỳ sinh trưởng cây cần độ ẩm trung bình, nên tưới nước vừa phải, không để cây úng. Vào mùa mưa cần vun gốc và tạo rãnh thoát nước cho cây. Cây cũng không đòi hỏi độ phì đất cao, có thể trồng ở nhiều chân đất khác nhau kể cả chân đất sét và chân đất cát nghèo dinh dưỡng, chỉ cần bón phân vừa phải là cây có thể sinh trưởng bình thường. Đến tuổi thành thục thì cây chịu hạn tốt. Có thể vận dụng đặc điểm này để phát triển cây trên vùng cát khô hạn. Khi cây còn nhỏ nên trồng trong chậu, đến khi cây trưởng thành, ra hoa kết trái vài vụ thì đưa ra trồng trên đất sân vườn.

Kim phượng thường bị sâu ăn lá tấn công. Những cây con mới lớn có thể bị chúng ăn trụi lá trong một thời gian ngắn. Vì vậy, khi trồng một vài cây cần theo dõi để bắt sâu hang ngày hoặc dung lưới bao để hạn chế bướm đẻ trứng, khi trồng hàng loạt thì cần theo dõi để phun thuốc phòng trừ.

Ở nhiều tỉnh thành Việt Nam, Kim phượng thường được trồng ở các đèn chùa, vườn nhà. Vào những ngày húy kị, nhiều gia đình vẫn thường dùng hoa Kim phượng để thiết bàn thờ và cho rằng đây là loại hoa sạch, tinh khiết, vì không vướn phân bón. Các chùa Phật giáo thường sử dụng giống hoa vàng, trong dân gian thì thích đa dạng màu sắc nên sử dụng tất cả các giống có được. Ngoài tác dụng trồng làm cảnh, Kim phượng chỉ được sử dụng cho việc cúng kiến, chưa bao giờ thấy ai sử dụng để trang trí lễ hội, cưới xin, hoặc tặng nhau vào những dịp kỉ niệm. Cái tên Phượng cúng hay Điệp cúng có lẽ bắt nguồn từ đó. Vào những tháng nắng nóng, Kim phượng ra hoa rộ, người trồng thường thu hoạch mang ra chợ bán, hoặc bán sĩ cho con buôn. Thu hoạch hoa cũng đơn giản, chỉ cần dùng một cây sào nhỏ có gắn một thanh thép hình móc câu là có thể bẻ các cành hoa ở mọi cao độ trên cây. Càng thu hoạch thì càng có nhiều chồi tái sinh tạo ra nhiều cành mới và sau đó hoa ra càng nhiều.

Ở Huế, rất nhiều vườn chùa và vườn nhà từ trung tâm thành phố cho đến các vùng nông thôn có trồng cây Kim phượng. Kim phượng ở Huế cũng có đủ 3 giống, nhưng thường thì giống hoa màu đỏ da cam phổ biến hơn cả, giống hoa màu hồng hiếm nhất. Theo chúng tôi được biết thì Bãi Dâu, phường Phú Hậu là một trong những nơi có truyền thống trồng Kim phượng theo hướng sản xuất từ lâu nay. Nhiều nhà vườn ở Bãi Dâu trồng kim phượng men theo hàng rào quanh nhà và vào nhiều tháng trong năm, cứ đến ngày 14 và 30 là họ thu hoạch buộc thành từng bó nhỏ gánh hoặc nách ra bán ở các chợ Bến Đò Cồn, Bao Vinh, Đông Ba… hoặc nách đi bán dạo ở nhiều khu đô thị trong thành phố. Mặc dù ngày càng có nhiều giống hoa đẹp bày bán ở thị trường, nhưng kim phượng vẫn được xem là một loài hoa truyền thống gắn liền với văn hóa tâm linh, được nhiều người ưa chuộng.

Đỗ Xuân Cẩm




CÂY NGÔ ĐỒNG Ở HUẾ
Đỗ Xuân Cẩm



(Bài đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Huế số 4)

Thành phố Huế khác hẳn một số thành phố trên dải đất miền Trung, không chỉ ở các lăng tẩm, đền đài, chùa chiền, thành quách… mà còn khác biệt ở màu xanh thiên nhiên hòa quyện vào các công trình một cách tinh tế. Có du khách cho rằng Huế là một kiệt tác muôn màu, muôn vẻ, mà ở đó bàn tay con người đã biết vận dụng những gì thiên phú để biến Huế thành một thành phố xanh. Sông Hương sẽ hết thơ mộng nếu hai bờ trơ trụi không cây. Đền đài, lăng tẩm sẽ trở thành xơ cứng nếu không được cây xanh tô điểm. Chùa chiền sẽ hết trang nghiêm nếu không có những cây cổ thụ bài trí phía trước, đằng sau. Thực tế thì Huế xanh thật, thậm chí rất xanh khi so với một số thành phố công nghiệp. Nhưng trong mảng màu xanh ấy, còn có cái gì đặc thù cho Huế? Cách phối trí cây? Tính phong phú, đa dạng? Tính lịch sử? Tính đặc hữu?…

Cho đến nay, chưa thấy một công trình khoa học nào tổng kết và đưa ra một kết luận thuyết phục nhằm nói lên tính đặc thù này. Có chăng chỉ mới là những con đường một thời mang tên cây. Nhưng giờ đây đâu còn nữa. Như thế, các hướng dẫn viên du lịch giới thiệu gì với du khách về màu xanh Huế để gây ấn tượng và giữ chân họ.

Với nhiệt tâm góp phần làm rõ nét đặc trưng của hệ thống cây xanh thành Huế, trong khuôn khổ tập Nghiên cứu Huế, chúng tôi chọn một giới thiệu một số loài cây gắn liền với sự phát triển nhân văn và môi trường cảnh quan Huế. Trong số này, xin được giới thiệu loài cây Ngô đồng, loài cây có lịch sử hiện hữu từ thời Minh Mạng, và cũng là loài đã có tên tuổi đi vào thơ văn của dân tộc. Có thể nói rằng, Ngô đồng Huế là một loài cây di tích.

I. VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC

1.1. Tên gọi và vị trí phân loại


Hiện nay, khi nói đến Ngô đồng, không phải mọi người Việt Nam, ai cũng chỉ nghĩ đến một loài cây, mà thực ra mỗi người nghĩ một khác. Ngay cả trong các tài liệu khoa học thực vật xuất bản mấy chục năm trở lại đây cũng thể hiện sự thiếu đồng nhất về tên gọi này. Hiện tượng đồng qui tên gọi gây ra những hạn chế không nhỏ cho việc cảm nhận một loài cây nhất định. Vì thế, cây Ngô đồng ở Huế cũng đã một thời được nhìn nhận không chính xác. Vậy cây Ngô đồng hiện có ở Huế là loài cây gì? Theo nhiều tài liệu nghiên cứu về khu hệ thực vật Việt Nam thì ở núi rừng Việt Nam có nhiều loài thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) có hình thái gần giống cây Ngô đồng ở Huế, khiến ta dễ nhầm lẫn chúng. Đó là Ngô đồng (Firmiana simplex (L.) W.F. Wight.), Ngô đồng đỏ (Firmiana colorata (Roxb.) R.Br.) và Bài cành (Sterculia populifolia Roxb.). Nếu không quan sát kĩ hình thái cây, đặc biệt là hình thái lá qua các thời kì sinh trưởng của cây và màu sắc hoa, cấu tạo quả hạt, thì chúng ta dễ nhầm lẫn từ loài này sang loài khác. Chẳng hạn như, nếu so sánh hình vẽ lá Ngô đồng trên Nhơn đỉnh – 1835 với lá cây Ngô đồng trưởng thành hiện có ở Huế thì ai cũng nghĩ rằng đó là hai loài khác nhau. Và cũng vì thế, Cụ Nguyễn Hữu Đính đã nêu ra giả thuyết “Hoặc nghệ nhân đã căn cứ vào hình vẽ trên một quyển sách xuất bản ở Trung Quốc, những sách Trung Quốc tôi có nghiên cứu đều chỉ có hình vẽ và mô tả loài platanifolia. Hoặc, cũng có thể trước đây ở Huế, đã có cả hai loại Ngô đồng, nhưng sau chỉ còn một” (Nguyễn Hữu Đính – Nghiên cứu Huế tập 1 – trang 205).
Thật ra, cây Ngô đồng ở Huế có cả hai kiểu lá, trong thời gian đầu của thời kì sinh trưởng, hầu hết lá trên cây đều có dạng 5 thùy, nhưng ở cây trưởng thành lá lại có ba thùy hoặc không phân thùy, cây càng già càng ít lá có thùy. Có thể, do quan sát trên cây non mà các nghệ nhân đã thể hiện trên Nhơn đỉnh loại lá có thùy.
Theo tôi, cây Ngô đồng ở Huế thuộc chi Firmiana, chứ không phải chi Sterculia (các loài thuộc chi Sterculia có quả bì dày, hạt mau rụng, trong lúc đó các loài thuộc chi Firmiana có quả bì mỏng, hạt không rụng). Như vậy, nó không thể là Sterculia populifolia (Bài cành, Trôm bài cành). Hai loài thuộc chi Firmiana mọc tự nhiên ở rừng Việt Nam là Ngô đồng – Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. (trước đây thường được gọi là Hibiscus simplex L. hoặc Sterculia platanifolia L.) và Ngô đồng đỏ (hay Bo rừng, Trôm màu) – Firmiana colorata Roxb.. Theo dẫn liệu khoa học đầy đủ thì loài Firmiana simplex phân bố tự nhiên ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam (từ Nghệ An trở ra) và các tỉnh miền Nam Trung Quốc. Như vậy, điều cần xem xét tiếp theo là cây Ngô đồng ở Huế là loài nào trong hai loài thuộc chi Firmianavừa nói. Các tài liệu đều thống nhất rằng, loài Firmiana simplex có hoa cái tập hợp thành chùm đầy lông, hoa vàng hay trắng vàng. Đặc điểm có ý nghĩa quan trọng đối với việc tôn tạo cảnh quan mà các tài liệu phân loại ít nói tới là toàn bộ trục hoa tự đực và đài hoa đều được phủ đầy lông màu hồng tím. Do vậy khi hoa nở rộ, cả cây nhuộm một màu hồng tím gần giống hoa Anh đào, trông rất đẹp. Cây Ngô đồng ở Huế ra hoa đực rộ vào trung tuần tháng 2 âm lịch hàng năm. Ở những cây đã thành thục sinh học, hoa nở rộ sau khi cây đã rụng lá toàn phần, do vậy toàn cây chỉ có hoa. Ở những cây còn non trẻ, hoa ra có muộn hơn và lá rụng cũng chậm hơn, nên trên cây vừa có hoa vừa có lá. Hoa cái ra muộn hơn và thường xen lẫn với đợt lá mới. Qua đó, tôi nghĩ rằng cây Ngô đồng ở Huế chính là Firmianasimplex (L.) W.F.Wight.; hoặc chí ít cũng là một thứ (biến chủng) (tiếng Latin là varietas, tiếng Anh là variety) của loài Ngô đồng – Firmiana simplex (L.) W.F.Wight.. và xin được gọi tên là “Ngô đồng Huế”. Nếu đây thật sự là một thứ thuộc loài Ngô đồng nói trên thì nên đặt tên khoa học cho nó là Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. var. hueensis.



1.2. Hiện tượng đồng qui tên gọi

Ở Huế, nói đến Ngô đồng có người nghĩ đến cây Ngô đồng ở Đại nội, nhưng cũng không ít người lại nghĩ tới cây Vông đồng (có lẽ do nhầm với tên Vang đồng trong Nhĩ Nhã – trong tài liệu này Vang đồng là Ngô đồng) và cũng có người nghĩ tới cả cây Vông nem. Đây là một sự nhầm lẫn không nên có. Cây Vông đồng thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) tên khoa học là Hura crepitans L.. Loài cây này có tán lớn, dày, thân có rất nhiều gai, lá hình tim, mép lá gợn sóng, quả hình bánh xe, khi chín phần vỏ quả trong hóa gỗ, khô dần rồi nứt ra phát thành tiếng (crepitans: nổ lách tách). Đây là cây phổ biến, được người dân trồng ở đầu làng, trước am miếu, đền đài hoặc trồng gây bóng ở một số nơi khác. Ở thành phố Huế, cây Vông đồng còn được trồng ngay trên hè phố (Ví dụ đường Lê Quí Đôn, đường Lê Lợi, đường Huỳnh Thúc Kháng…). Các tỉnh miền nam gọi là cây Mã đậu. Đây là loài phát tán mạnh, có khả năng tái sinh tự nhiên và mọc hoang ở nhiều nơi khác nhau. Cây Vông nem thuộc họ Đậu (Fabaceae), tên khoa học là Erythrina variegata L. cũng là loài cây thân có gai, thường được trồng cho trầu hoặc tiêu leo, trồng làm hàng rào hoặc mọc hoang ở nhiều nơi. Cây có hoa màu đỏ rất đẹp, lá được dùng gói nem, lá non nấu canh ăn an thần nhẹ, dễ ngủ. Cây phân bố tự nhiên khắp các miền của đất nước và ở các vùng sinh thái khác nhau, từ miền núi đến đồng bằng, kể cả vùng cát ven biển hoặc hải đảo.


Nhiều tài liệu khác nhau trong nước cũng có sự đồng qui tên gọi Ngô đồng:
- Phan Đức Bình (2002), trong Thuốc và sức khỏe số 204, giới thiệu ba loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng = Dầu lai = Dầu mè = Đậu cọc rào – Jatropha curcas L. thuộc họ Euphorbiaceae; (2) Ngô đồng – Brassaiopsis ficifolia Dunn. var.ficifolia thuộc họ Araliaceae; (3) Ngô đồng = Tơ đồng – Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. thuộc họ Sterculiaceae
- Vụ Khoa học, Công nghệ và chất lượng sản phẩm (2000), trong Tên cây rừng Việt Nam, giới thiệu ba loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng – Firmiana simplex (L.) W.F.Wight. thuộc họ Sterculiaceae; (2) Ngô đồng đỏ – Firmiana colorata(Roxb.) R.Br. thuộc họ Sterculiaceae; (3) Ngô đồng cảnh – Jatropha podagrica Hook. thuộc họ Euphorbiaceae (loài này ở Huế gọi là cây Độc bình).
- Vũ Văn Chuyên (1977), trong Hỏi đáp thực vật tập 4, dùng tên Ngô đồng để chỉ cây Độc bình Jatropha podagricaHook. Để ghi chú ảnh, tác giả dẫn câu “ Cây Ngô đồng không trồng mà mọc”. Nếu đối chiếu với câu “Cây tơ hồng không trồng mà mọc, gái chưa chồng anh chọc anh chơi” thì quả là phức tạp. Thật ra thì cây Độc bình cũng ít mọc hoang dại phổ biến như cây Tơ hồng.
- Đỗ Tất Lợi (1986), trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, giới thiệu hai loài Ngô đồng: (1) Ngô đồng = Trẩu = Dầu sơn = Mộc du thụ = Thiên niên đồng – Aleurites montana (Lour.) Wils. thuộc họ Euphorbiaceae; (2) Ngô đồng –Sterculia platanifolia L. thuộc họ Sterculiaceae.
Với một số dẫn liệu về cách gọi đồng qui tên Ngô đồng cho nhiều loài cây như thế, chắc hẳn gây ra khá nhiều phức tạp cho người tìm hiểu. Từ thực tế đó, mà khi nói đến cây Ngô đồng, mỗi người nghe lại nghĩ một khác, và như thế giá trị lịch sử, di tích và tôn tạo cảnh quan của loài cây đang bàn cũng sẽ giảm thiểu. Nhiều du khách đến Huế sẽ thờ ơ khi nghe giới thiệu đến loài Ngô đồng, vì họ hiểu Ngô đồng là Tơ hồng, là Trôm đơn, là Trẩu, là Đậu cọc rào, là Độc bình… và như thế thì “Ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ triêu dương” (Kinh Thi) còn có ý nghĩa gì!
Nếu hiểu Ngô đồng là Tơ hồng, là Đậu cọc rào, hay là Độc bình làm sao có được câu thơ:
Nửa năm hương tiếng vừa quen,
Sân Ngô cành biếc đã chen lá vàng
và chắc rằng Đỗ Phủ cũng không viết được:
Hương đạo trắc dư anh vũ lạp
Bích Ngô thê lão phượng hoàng chi.



II. HIỆN TRẠNG CÂY NGÔ ĐỒNG Ở HUẾ

Theo Đại Nam Nhất Thống Chí thì cây Ngô đồng đã được đưa từ Quảng Đông về trồng ở hai bên góc điện Cần Chánh – Đại nội – Huế từ thời minh Mạng. Sau đó Minh Mạng sai binh biền đem lá lên rừng núi tìm kiếm để mang về trồng thêm ở các góc điện. Những cây này hiện nay không còn nữa, những cây chúng ta hiện thấy ở mặt sau điện Thái Hòa và khu vực Tả – Hữu Vu cũng chỉ là những cây đã thay thế, tuổi cây chỉ năm ba chục năm trở lại đây thôi. Trong số 8 cây hiện hữu ở khu vực này, chỉ có 3 cây có kích cỡ lớn, chiều cao từ 16 – 18 m và đường kính thân tối đa 0,75 m. Trong số đó, chỉ có một cây ở Tả Vu có tán đều, cành nhánh phát triển cân đối, hàng năm phát hoa mạnh và rộ khi lá đã rụng toàn phần. Đây là cây tiêu biểu nhất trong toàn bộ các cây hiện còn. Những cây còn lại có chất lượng kém, cành nhánh phát triển không cân đối, tán không đều, vài cây bị cụt ngọn trông không đẹp. Ngoài địa điểm vừa nêu, cây Ngô đồng ở Huế còn có thể tìm thấy ở vài công viên (Thương Bạc, Phú Xuân, Tứ Tượng), vài lăng tẩm (Minh Mạng, Tự Đức) nhưng tất cả cũng chỉ là cây non trẻ, tuổi cây vài ba chục năm trở lại. Do cây thuộc loại mọc nhanh, gỗ xốp, nên thường dễ ngã đổ mỗi khi gặp lốc, bão.

Dù sao, thì dấu ấn lịch sử và ý tứ thơ văn cũng đã làm cho người Huế có ý thức bảo tồn loài cây Ngô đồng. Nhờ vậy trải qua bao năm tháng, sau những cơn bão dử, cây Ngô đồng này ngã xuống, cây Ngô đồng khác lại được trồng lên. Nhờ vậy, mãi đến bây giờ cây Ngô đồng vẫn tồn tại. Nay mai, khi điện Cần Chánh được phục hồi, ắt hẳn các nhà quản lí di tích không quên trồng lại cây Ngô đồng đúng vị trí ban đầu của nó.

III. MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ VIỆC BẢO TỒN CÂY NGÔ ĐỒNG Ở HUẾ

Chẳng mấy ai đã sinh ra, lớn lên ở Huế lại không khắc khoải tâm tư khi nhìn thấy hàng cây xanh ven đường trốc gốc sau cơn bão dử, hay đang rướm máu dưới làn cưa, lưỡi mác của công nhân chỉnh trang đô thị. Nhiều người Huế có thể không cảm nhận được ý nghĩa cây Ngô đồng, nhưng chắc hẳn sẽ nhớ mãi những cây xanh đã một thời làm nên tên tuổi cho bao con đường trong thành phố cổ: Đoác, Muối, Me… Cây xanh ở Huế đã được người Huế bài trí như một sự điểm tô. Nó được sắp đặt, phối trí để tôn tạo cho bao công trình kiến trúc cổ và hiện đại. Trong quá trình phát triển đô thị, vì lý này, lẽ khác nhiều cây xanh phải chịu nằm xuống để rồi mãi mãi mất tên. Cũng trong quá trình đó, hệ thống cây xanh biến tướng theo chiều hướng thực dụng, chắp vá và đối phó tình huống. Nhiều loài quen thuộc mất đi, nhiều loài mới được thay thế, lắm khi phá vỡ cả phong cách tôn tạo riêng và làm mất đi cái chất Huế có tự bao giờ. Người Huế thích hoài cổ, bởi lẽ đạo lí làm người ai mà không có quá khứ. Đây cũng là một tư chất có liên quan đến công tác bảo tồn. Đành rằng, bảo tồn nhưng không bảo thủ, có nghĩa là biết bảo tồn thích nghi, nhưng cái gốc vẫn là cơ bản. Như thế, nếu chúng ta đã biết cây Ngô đồng không những là cây tôn tạo cảnh quan, mà nó còn là cây di tích, lại là một cây đẹp, dễ trồng thì chắc hẳn chúng ta rất đồng tình với việc bảo tồn cây Ngô đồng trong việc tôn tạo hệ thống cây xanh cho quần thể di tích. Ngô đồng là loài cây rụng lá toàn phần, ưa sáng, mọc nhanh, phân cành muộn, cành nhánh ngắn, mọc chếch nên tán cây gọn, có giá trị tạo cảnh nhiều hơn tạo bóng. Hoa ra rộ khi cây chưa có lá vào tiết tháng hai âm lịch. Thời điểm đó, nó sẽ điểm tô cho cảnh quan thêm phần sinh động và đẹp mắt. Sau thời kì ra hoa, cây nảy lộc cho ra màu xanh mượt mà, mát mắt để rồi chuyển sang một màu xanh ngát, cũng là một gam màu làm đẹp cho các công trình. Cây Ngô đồng không kén đất, tái sinh hạt mạnh, có thể nhân giống bằng hạt để đưa trồng ở nhiều nơi khác nhau trong thành phố. Điều quan trọng là chọn vị trí và phương thức trồng thế nào để nó phát huy được vai trò tôn tạo cảnh quan. Về phương thức trồng, chúng tôi rất đồng tình với ý kiến của Cụ Nguyễn Hữu Đính, là trồng cụm, chỉ trồng đơn lẻ trong những trường hợp nhất định. Ở thành phố Tokyo, cây Ngô đồng được chọn trồng thành hàng trên dải phân cách của đường phố lớn. Đây cũng là một mô hình cần nghiên cứu, đặc biệt là đối với một vài đường phố hẹp, không thể đưa trồng các loài cây có tán rộng. Có thể có chút băn khoăn vì cây rụng lá theo mùa. Nhưng thực tế cho thấy thời gian trơ cành không lâu và liền được thay bằng một vòm hoa màu hồng phớt tím, càng làm cho bầu trời xuân thêm ấm áp và thi vị. Trong khuôn viên một vài công sở hoặc trong các công viên cũng có thể trồng Ngô đồng, nhưng nên trồng thành cụm 3 – 5 cây. Cây Ngô đồng đứng chơi vơi một mình trông rất đơn điệu. Trồng đơn độc chỉ hợp với bồn hoa trung tâm một tiền sảnh hay công viên hoặc đứng ở một góc công trình không có cây lớn che chắn. Lúc đó nó thành chủ thể của một không gian vừa phải. Khi đơn lẻ đan xen trong một hệ thống nhiều cây tán rộng, cây Ngô đồng sẽ bị che lấp đi. Nhưng dù gì đi nữa, cũng nên nghĩ tới việc phát triển số lượng có gắn liền với ý nghĩa lịch sử của nó, đừng biến nó thành một loài tầm thường như bao loài khác chỉ vì số lượng cá thể quá nhiều và đi đâu cũng bắt gặp. Có lẽ tốt nhất là chỉ nên phát triển trong khuôn viên Đại Nội và ở lăng Minh Mạng thôi.